Lãi suất kép là cách tính lãi mà tiền lãi của kỳ trước được cộng vào gốc, rồi cả khoản đó cùng sinh lãi ở kỳ sau. Với sổ tiết kiệm, bạn có lãi kép khi chọn tái tục cả gốc lẫn lãi mỗi lần đến hạn. Gửi 100 triệu với ví dụ 6%/năm, kỳ hạn 12 tháng, tái tục đủ 10 năm sẽ có khoảng 179,08 triệu. Nếu mỗi năm rút lãi ra tiêu, sau 10 năm bạn nhận tổng cộng 160 triệu.
| Số năm | Lãi kép (tái tục gốc + lãi) | Lãi đơn (rút lãi mỗi năm) | Chênh lệch |
|---|---|---|---|
| 1 | 106.000.000 | 106.000.000 | 0 |
| 2 | 112.360.000 | 112.000.000 | 360.000 |
| 3 | 119.101.600 | 118.000.000 | 1.101.600 |
| 5 | 133.822.558 | 130.000.000 | 3.822.558 |
| 10 | 179.084.770 | 160.000.000 | 19.084.770 |
| 20 | 320.713.547 | 220.000.000 | 100.713.547 |
Bảng tính với gốc 100 triệu, ví dụ lãi suất 6%/năm giữ nguyên suốt thời gian gửi, kỳ hạn 12 tháng. Lãi suất thật thay đổi theo từng thời điểm nên con số của bạn sẽ khác.
Lãi kép khác lãi đơn thế nào
Lãi đơn chỉ tính trên số tiền gốc ban đầu. Gửi 100 triệu, 6%/năm, năm nào cũng được 6 triệu, dù gửi bao lâu.
Lãi kép tính trên gốc cộng với lãi đã nhập. Năm thứ nhất vẫn là 6 triệu. Sang năm thứ hai, gốc đã là 106 triệu nên lãi là 6,36 triệu. Năm thứ ba gốc là 112,36 triệu, lãi khoảng 6,74 triệu. Mỗi năm phần lãi lớn thêm một chút, và càng về sau khoảng cách càng doãng ra.
Nhìn bảng trên: 5 năm đầu chênh chưa tới 4 triệu. Đến năm thứ 20, chênh hơn 100 triệu, tức bằng cả số gốc ban đầu. Đó là lý do lãi kép chỉ phát huy khi để tiền đủ lâu.
Công thức tính lãi kép
Công thức chung:
Số tiền cuối kỳ = Gốc × (1 + r/n) ^ (n × t)
Trong đó:
- r là lãi suất năm, viết dưới dạng số thập phân (6% là 0,06).
- n là số lần nhập lãi vào gốc trong một năm (kỳ hạn 12 tháng thì n = 1, kỳ hạn 3 tháng thì n = 4, kỳ hạn 1 tháng thì n = 12).
- t là số năm gửi.
Ví dụ gửi 100 triệu, 6%/năm, 5 năm:
- Kỳ hạn 12 tháng, tái tục mỗi năm: 100 triệu × 1,06^5 = 133.822.558 đồng.
- Giả sử kỳ hạn 3 tháng cũng có lãi 6%/năm, tái tục 20 lần: 100 triệu × (1 + 0,06/4)^20 = 134.685.501 đồng.
- Giả sử kỳ hạn 1 tháng cũng 6%/năm, tái tục 60 lần: 100 triệu × (1 + 0,06/12)^60 = 134.885.015 đồng.
Nhập lãi càng dày thì kết quả càng cao, nhưng mức tăng thêm khá nhỏ. Trên thực tế, kỳ hạn ngắn thường có lãi suất thấp hơn kỳ hạn dài. Ví dụ kỳ 1 tháng chỉ 5%/năm, tái tục 12 lần trong một năm được 105.116.190 đồng, vẫn kém gửi thẳng kỳ 12 tháng ở 6%/năm (106.000.000 đồng). Mức lãi suất quan trọng hơn số lần nhập lãi.
Quy tắc 72: bao lâu thì tiền gấp đôi
Lấy 72 chia cho lãi suất năm (tính theo %) sẽ ra số năm gần đúng để tiền gấp đôi khi để lãi kép.
- Lãi 6%/năm: 72 / 6 = 12 năm. Tính chính xác là khoảng 11,9 năm.
- Lãi 8%/năm: 72 / 8 = 9 năm.
- Lãi 4%/năm: 72 / 4 = 18 năm.
Quy tắc này dùng để ước nhanh, không thay cho phép tính thật. Nó cũng giúp bạn nhận ra lời chào mời vô lý: ai hứa "gấp đôi tiền trong một năm" tức là hứa lãi 100%/năm, mức mà tiền gửi ngân hàng không có.
Cách có lãi kép với sổ tiết kiệm
- Khi mở sổ, chọn hình thức đến hạn tái tục gốc và lãi (có nơi gọi là "quay vòng gốc và lãi"). Nếu chọn "tái tục gốc, lãi chuyển về tài khoản" thì bạn chỉ có lãi đơn.
- Chọn kỳ hạn phù hợp với lúc bạn cần tiền. Rút trước hạn sẽ mất gần hết lãi của kỳ đang chạy, làm hỏng cả chuỗi lãi kép.
- Không rút lãi ra tiêu giữa chừng. Mỗi lần rút là gốc cho kỳ sau nhỏ lại.
- Giữ thẻ tiết kiệm hoặc ảnh chụp hợp đồng tiền gửi online để biết ngày đến hạn.
- Mỗi lần đến hạn, xem lãi suất kỳ mới. Nếu thấp hơn nhiều so với nơi khác, bạn có thể tất toán đúng ngày đến hạn để chuyển tiền mà không mất lãi.
Những điều bảng tính không nói
Lãi suất khi tái tục là lãi suất tại ngày tái tục. Ngân hàng không giữ nguyên mức lãi lúc bạn mở sổ cho những kỳ sau. Nếu lãi suất giảm, số tiền cuối cùng sẽ thấp hơn bảng trên. Nếu lãi suất tăng, bạn được nhiều hơn.
Lạm phát ăn vào sức mua. 179 triệu sau 10 năm không mua được lượng hàng bằng 179 triệu hôm nay. Muốn biết tiền có thật sự lớn lên, hãy so lãi suất với mức tăng giá hằng năm.
Lãi tính theo ngày thực tế. Nhiều ngân hàng tính lãi theo công thức: gốc × lãi suất năm / 365 × số ngày gửi. Năm có 366 ngày, kỳ 12 tháng có thể nhiều hơn một ngày lãi. Với 100 triệu, 6%/năm, 365 ngày ra đúng 6.000.000 đồng, 366 ngày ra 6.016.438 đồng. Chênh lệch nhỏ nhưng giải thích vì sao số trên sổ không tròn như bảng tính.
Lãi kép cũng chạy ngược khi bạn nợ. Khoản nợ thẻ tín dụng không trả đủ, lãi chưa trả cộng vào dư nợ và kỳ sau bị tính lãi tiếp. Cùng một cơ chế, gửi tiền thì có lợi, nợ thì thiệt.
Lãi kép trong các sản phẩm khác
Tiết kiệm tích lũy, gửi góp hàng tháng cũng có thể có lãi kép nếu lãi được nhập vào số dư. Cách tính từng sản phẩm khác nhau, cần đọc điều khoản. Các lời mời "đầu tư lãi kép 1%/ngày", "nhân tiền theo cấp số" trên mạng xã hội thường là mô hình lừa đảo, lấy tiền người sau trả cho người trước. Lãi kép thật chỉ đến từ lãi suất thật, và lãi suất tiền gửi hợp pháp không bao giờ ở mức đó.
Câu hỏi thường gặp
Lãi suất kép là gì?
Là cách tính mà lãi của mỗi kỳ được nhập vào gốc, kỳ sau tính lãi trên cả gốc lẫn phần lãi đã nhập. Kết quả là tiền tăng nhanh dần theo thời gian. Với sổ tiết kiệm, bạn có lãi kép khi chọn tái tục cả gốc và lãi.
Gửi tiết kiệm quay vòng là gì?
Là khi sổ đến hạn mà bạn không rút, ngân hàng tự mở kỳ mới cùng kỳ hạn. Nếu quay vòng cả gốc và lãi thì bạn hưởng lãi kép. Nếu chỉ quay vòng gốc, lãi được trả vào tài khoản thanh toán và không sinh lãi tiếp theo lãi suất có kỳ hạn.
Gửi tiết kiệm dài hạn có lợi hơn không?
Gửi dài giúp lãi kép có thời gian phát huy, như bảng trên cho thấy chênh lệch chủ yếu đến từ những năm sau. Nhưng kỳ hạn dài khó rút khi cần tiền gấp. Nhiều người chia tiền thành vài sổ với kỳ hạn khác nhau để vừa có lãi vừa có tiền dự phòng.
Gửi tiết kiệm dài hạn có rút được không?
Được, nhưng rút trước ngày đến hạn thì phần rút thường chỉ được hưởng lãi không kỳ hạn thấp nhất. Chuỗi lãi kép bị cắt ngang và gần như mất lãi của kỳ đang chạy.